Thử nghiệm mù đôi là khi cả người tham gia lẫn những người chăm sóc, đánh giá họ đều không biết ai đang nhận cách làm thật, ai nhận đối chứng. Che mắt cả hai phía vì kỳ vọng không chỉ nằm ở người bệnh: người đo đạc, người chấm điểm cũng vô tình lái kết quả theo điều họ mong.
Chào bạn, đây là Nhà Khoa Học. Tập trước mình nói về giả dược, tức là che mắt người bệnh. Tập này mình kể tiếp nửa còn lại, nửa mà nhiều người không ngờ tới: che mắt chính các nhà khoa học. Và để mở đầu, không gì hợp hơn câu chuyện về một chú ngựa biết làm toán.
Chú ngựa biết đếm dạy gì cho khoa học?
Đầu thế kỷ hai mươi ở Đức có một con ngựa nổi tiếng tên là Hans, được gọi là Hans Thông minh. Chủ của nó hỏi hai cộng ba bằng mấy, và ngựa gõ móng đúng năm lần. Người ta đổ tới xem, có cả những người có học thức, và nhiều người tin con ngựa thật sự biết tính.
Rồi một nhà tâm lý học làm một việc đơn giản: để người hỏi đứng khuất, hoặc hỏi một câu mà chính người hỏi không biết đáp án. Con ngựa bắt đầu gõ sai.
Hoá ra Hans không biết toán, nhưng nó đọc người cực giỏi. Khi gõ tới đúng số, người hỏi vô thức thay đổi tư thế, thả lỏng vai, ngẩng đầu một chút. Con ngựa dừng đúng lúc đó. Chính người chủ, rất thật lòng, cũng không hề biết mình đang ra hiệu.
Bài học ở đây không phải người chủ gian dối. Bài học là người biết đáp án, dù trung thực tới đâu, vẫn rò rỉ đáp án qua những cử chỉ họ không kiểm soát được.
Mù đơn, mù đôi khác nhau thế nào?
Mù đơn là khi chỉ người tham gia không biết mình ở nhóm nào. Nó chặn được hiệu ứng giả dược, nhưng để hở một cửa lớn: bác sĩ, y tá, người đo huyết áp vẫn biết.
Người biết thì đối xử khác đi mà không định thế. Hỏi han bệnh nhân nhóm thuốc thật kỹ hơn một chút. Khi đọc một vết thương, một tấm phim chụp, hay chấm một thang đau, những ca lưng chừng dễ được chấm nghiêng về phía mình mong. Một chút nghiêng mỗi ca, cộng lại vài trăm ca, đủ để tạo ra một kết quả trông như có ý nghĩa.
Mù đôi đóng nốt cửa đó. Thuốc thật và giả dược được đóng vào những lọ giống hệt, chỉ mang mã số. Danh sách ai nhận mã nào được một nhóm khác giữ kín tới khi thu xong số liệu.
Có nghiên cứu còn làm mù ba: người phân tích số liệu cũng chỉ thấy nhóm A và nhóm B, không biết nhóm nào là thuốc thật. Nghe hơi quá, nhưng người chạy phân tích cũng có vô số lựa chọn nhỏ có thể vô tình nghiêng về phía mình mong.
Khi không thể giấu được thì người ta làm gì?
Có những thứ không thể giấu. Bạn không thể cho ai tập thể dục mà họ không biết mình đang tập. Một ca mổ thì bệnh nhân và bác sĩ phẫu thuật đều biết đã mổ. Một chế độ ăn thì người ăn biết mình đang ăn gì.
Khi đó người ta giấu những gì còn giấu được. Người đánh giá kết quả có thể là một người khác hẳn, không biết bệnh nhân thuộc nhóm nào. Chẳng hạn bác sĩ đọc phim chụp chỉ nhận tấm phim với mã số, không kèm tên và không kèm thông tin điều trị.
Với phẫu thuật, đôi khi người ta dùng một kiểu đối chứng rất gây tranh cãi: phẫu thuật giả, rạch da nhưng không làm phần can thiệp chính. Có những thủ thuật được dùng rộng rãi nhiều năm, tới khi so với phẫu thuật giả thì không thấy hơn rõ rệt. Vì đụng chạm tới đạo đức, cách này chỉ dùng khi có lý do rất mạnh và người bệnh đồng ý đầy đủ.
Và khi không giấu được gì cả, một nghiên cứu nghiêm túc sẽ nói thẳng điều đó ra như một giới hạn, để người đọc tự cân nhắc.
Che mắt có khi nào bị lộ không?
Có, và đây là chỗ người trong nghề hay nhắc nhau. Thuốc thật thường có tác dụng phụ, như khô miệng, buồn ngủ, đổi màu nước tiểu. Người tham gia nhận ra mình có tác dụng phụ, đoán được mình ở nhóm thuốc thật, và thế là tấm che mắt coi như đã rách.
Một số nghiên cứu vì thế hỏi người tham gia ở cuối: bạn đoán mình ở nhóm nào. Nếu phần lớn đoán đúng, người đọc nên dè dặt hơn với những kết quả dựa trên cảm nhận chủ quan.
Người ta cũng từng dùng giả dược chủ động, tức là một chất gây ra vài tác dụng phụ nhẹ giống thuốc thật nhưng không có tác dụng chữa bệnh, để giữ tấm che kín hơn.
Chuyện này cho thấy thiết kế một thí nghiệm tốt giống như chặn nước rỉ: bịt được chỗ này, nước lại tìm chỗ khác. Không có thí nghiệm hoàn hảo, chỉ có thí nghiệm biết rõ mình còn hở chỗ nào.
Mang ý tưởng che mắt vào đời thường
Bạn có thể dùng ý tưởng này ở nhà. Muốn biết mình có thật sự phân biệt được cà phê đắt và cà phê rẻ không, nhờ người khác pha hai ly giống hệt nhau, đánh dấu dưới đáy, rồi mình uống mà không biết ly nào. Nhiều người khá bất ngờ với kết quả.
Chấm bài, chấm hồ sơ cũng vậy. Khi thầy cô chấm bài mà che tên học sinh, những định kiến nhỏ, em này hay làm tốt, em kia hay lười, bớt chen vào điểm số.
Ngay trong công việc, khi so hai phương án, để một người không biết phương án nào là của ai đánh giá thường cho kết quả thẳng thắn hơn.
Ý tưởng nền vẫn là của chú ngựa Hans: khi mình biết đáp án mình mong, mình rò rỉ nó ra theo những cách mình không thấy. Vậy thì trong những phán đoán gần đây của bạn, phán đoán nào bạn đã đưa ra trong lúc biết trước đáp án mình mong?
Câu hỏi thường gặp
Thử nghiệm mù đôi có bắt buộc với mọi loại thuốc không?
Với việc đánh giá hiệu quả của thuốc mới, thử nghiệm có đối chứng và che giấu thường được xem là tiêu chuẩn tốt. Nhưng có những trường hợp không làm được hoặc không cần, và cơ quan quản lý sẽ cân nhắc từng loại bằng chứng.
Ai là người giữ danh sách phân nhóm?
Thường là một nhóm độc lập với những người trực tiếp chăm sóc và đánh giá bệnh nhân. Danh sách chỉ được mở khi nghiên cứu kết thúc, hoặc sớm hơn khi có lý do an toàn cho người tham gia.
Nếu người tham gia gặp chuyện khẩn cấp thì có mở danh sách không?
Có. Các thử nghiệm đều có quy trình mở mã khẩn cấp cho từng người khi bác sĩ cần biết họ đang dùng gì để xử lý. An toàn của người tham gia luôn được đặt trước tính kín của nghiên cứu.
Nghiên cứu không mù có đáng tin không?
Vẫn có giá trị, nhất là khi kết quả là những thứ khách quan như tử vong hay chỉ số máy đo. Nhưng với kết quả dựa trên cảm nhận như đau hay mệt, nghiên cứu không che giấu dễ bị kỳ vọng làm lệch hơn.
Hans Thông minh có thật không?
Có, đây là một trường hợp có thật, được ghi chép và nghiên cứu ở Đức đầu thế kỷ hai mươi. Tên con ngựa sau đó được dùng để gọi hiện tượng người quan sát vô tình ra hiệu cho đối tượng được quan sát.